Đến nội dung chính

覚える

o-bo-e-ru

Tiếng Nhật còn 'nhớ' được cả cơn đau

Hình ảnh Cái ở ngoài đi vào và nằm vào một ô trong đầu hay trong người, rồi ở lại. 覚える đi vào lấp đầy cái ô, 忘れる tuột ra để cái ô trống.

Động từ cơ bản

Hình ảnh ấy xuất hiện ở đâu trong 覚える

  1. Cái tên vào nằm chỗ

    お客さんの名前をすぐ覚えました。

    o-kyaku-san no namae o sugu oboe-mashita

    Tôi nhớ tên khách ngay.

    Nhìn mặt một lần, mấy chữ tự viết ngay ngắn vào ô tên bên dưới.

  2. Lấp từng ô một

    今日は漢字を十個覚えます。

    kyō wa kanji o jukko oboe-masu

    Hôm nay tôi học mười chữ kanji.

    Mỗi ô trong vở một chữ, cho tới khi mười ô đầy.

  3. Ngấm vào thân người

    この仕事は体で覚えてください。

    kono shigoto wa karada de oboete kudasai

    Việc này hãy học bằng tay.

    Cùng một động tác lặp lại tới khi tay và vai tự chạy đúng trình tự.

    体で覚える nằm vào tay chân hơn là vào đầu.

  4. Cảm giác vào nằm chỗ

    胸に痛みを覚えて病院へ行きました。

    mune ni itami o oboete byōin e iki-mashita

    Tôi cảm thấy đau ở ngực nên đi bệnh viện.

    Một cơn đau lạ ngồi xuống giữa lồng ngực và không đi.

    痛みを覚える là cách nói trang trọng cho việc cảm thấy đau.

  5. Chỉ một ô được lấp

    顔は覚えているのですが名前が出ません。

    kao wa oboete iru no desu ga namae ga de-masen

    Mặt thì tôi nhớ, mà tên không ra.

    Ô khuôn mặt có tấm ảnh, còn ô tên bên cạnh vẫn trắng.

Tất cả trong một hình ảnh

覚える chỉ là một hình: cái ở ngoài vào nằm lại bên trong. Tên khách nằm vào ô của nó là nhớ được, lấp mười ô bằng mười chữ kanji là học, trình tự ngấm vào tay và vai là người học lấy, cơn đau lạ nằm vào ngực là cảm thấy, ô khuôn mặt đầy mà ô tên trống là chỉ nhớ mặt. Ở chỗ nào cũng vậy, cái vào nằm đó đều từ bên ngoài tới, còn phần của mình chỉ là để trống cái ô cho nó.

Tiếp theo

Xem tất cả hình ảnh cốt lõi Tiếng Nhật