이/가
i / ga
제가 và 저는: khác nhau ở chỗ không ai giảng
Hình ảnh Có người hỏi ai làm, và ngón tay bạn chỉ đúng một người. Trong bao nhiêu thứ, chỉ cái này. 이/가 là ngón tay chọn ra cái nào; 은/는 là ngọn đèn để sáng trên cái đó rồi kể tiếp câu chuyện.
Hình ảnh ấy xuất hiện ở đâu trong 이/가
-
lần đầu chỉ tới
손님이 오셨어요.
son-ni-mi o-syeo-sseo-yo
Có khách đến rồi ạ.
Cửa mở, một cái đầu ngẩng lên, và ngón tay chỉ về phía người khách vừa bước vào
-
tôi, chứ không ai khác
제가 하겠습니다.
je-ga ha-get-seum-ni-da
Để tôi làm cho.
Trong phòng ai cũng tránh nhìn nhau, một cánh tay giơ lên và chỉ vào ngực mình
저는 하겠습니다 lấy tôi làm chủ đề; 제가 하겠습니다 chỉ rõ người làm là tôi.
-
chỉ đúng chỗ đau
어디가 아프세요?
eo-di-ga a-peu-se-yo
Anh/chị đau ở đâu ạ?
Ngón tay bác sĩ rà trên người bệnh nhân, tìm đúng một chỗ: chỗ này? chỗ này?
-
không phải cái đó
그건 제 잘못이 아니에요.
geu-geon je jal-mo-si a-ni-e-yo
Chuyện đó không phải lỗi của tôi.
Có ngón tay chĩa về phía bạn, và bạn lấy mu bàn tay gạt nó sang bên
-
cái đang thiếu
지금은 시간이 없어요.
ji-geu-meun si-ga-ni eop-seo-yo
Bây giờ tôi không có thời gian.
Ngón tay chỉ vào cái ô lẽ ra phải có thời gian, mà cái ô ấy trống trơn
Tất cả trong một hình ảnh
이/가 không thêm nghĩa gì, nó chỉ là một ngón tay. Chỉ về phía cửa thì một người khách chưa ai biết bước vào câu chuyện; chỉ vào ngực mình thì người làm việc đó là tôi chứ không ai khác. Rà trên thân người thì thành câu hỏi đau ở chỗ nào; gạt ngón tay đang chĩa vào mình thì thành 'chuyện đó không phải tôi'. Chỉ vào ô đáng lẽ có thời gian mà ô ấy trống trơn, thế là không có thời gian. Vậy nên chỗ nào có 이/가, chỗ đó vừa có một thứ được chỉ đích danh: chính cái này, chứ không phải cái khác.