出来
chū lái
出来 không hẳn là đi ra, mà là hiện ra
Hình ảnh Một thứ bật ra khỏi chiếc hộp đóng kín. Vừa nãy còn chưa thấy, giờ đã thấy rồi. 出来 đưa cái bên trong ra chỗ thấy được, còn 进去 đưa cái bên ngoài vào trong cho khuất mắt.
Hình ảnh ấy xuất hiện ở đâu trong 出来
-
người bước ra
你怎么才出来?我等半天了。
nǐ zěnme cái chū lái? wǒ děng bàntiān le
Sao giờ anh mới ra? Tôi đợi cả buổi rồi.
Cánh cửa đang đóng mở ra và một người bước qua khung cửa ra ngoài.
-
hiện ra thành vật
麻烦把发票打印出来。
máfan bǎ fāpiào dǎyìn chū lái
Phiền chị in hóa đơn ra giúp.
Tờ giấy được đẩy ra khỏi miệng máy in rồi rơi vào tay bạn.
-
bật ra từ trong đầu
方案我们终于想出来了。
fāng'àn wǒmen zhōngyú xiǎng chū lái le
Cuối cùng bọn tôi cũng nghĩ ra phương án.
Phương án cứ quẩn trong đầu bỗng nhảy ra ngoài và nằm lại trên tờ giấy.
-
lộ ra khỏi chỗ giấu
他戴口罩我也认出来了。
tā dài kǒuzhào wǒ yě rèn chū lái le
Anh ấy đeo khẩu trang mà tôi vẫn nhận ra.
Đôi mắt trồi lên phía trên chiếc khẩu trang cho tới khi cả khuôn mặt khớp vào một cái tên quen.
-
giác quan bắt được
汤里加了姜,我尝出来了。
tāng li jiā le jiāng, wǒ cháng chū lái le
Canh có bỏ gừng, tôi nếm là biết ngay.
Vị gừng nấp trong thìa canh trồi lên trên đầu lưỡi.
Tất cả trong một hình ảnh
出来 chỉ có một bức tranh: cái nằm bên trong đi ra chỗ nhìn thấy được. Người ra khỏi khung cửa là bước ra, dữ liệu ra khỏi máy in là in ra, ý nghĩ ra khỏi đầu là nghĩ ra được phương án. Khuôn mặt trồi lên từ sau khẩu trang là nhận ra người quen, còn vị trồi lên từ trong bát canh là nếm ra miếng gừng. Vậy nên chỗ nào có 出来, chỗ đó có thứ đang giấu mình đi ra đủ xa để đập vào mắt, vào mũi hay vào lưỡi.